Bên cạnh đó, cơ sở vật chất tại các xã, thôn, bản vùng sâu, vùng xa còn nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn đủ thứ, đường sá đi lại khó khăn
Theo Đại úy Nguyễn Tiến Lợi, Phó cụm trưởng Cụm TSKT 16, Trạm trưởng Trạm 2 thì những ngày đầu mới thành lập, nhiệm vụ công tác dân vận của đơn vị gặp rất nhiều khó khăn, nhất là quá trình vận động đồng bào phá bỏ cây thuốc phiện và tiến hành cai nghiện tụ tập.
Bên cạnh đó, các anh còn tích cực trợ giúp quần chúng sửa nhà, làm nương, hướng dẫn bà con trồng và chăm chút cây ngô lai 10, gian rét cho trâu bò, chuyển di nhà vệ sinh, hệ thống chuồng trại chăn nuôi ra xa khu vực nhà ở. Khi đã "ấm cái bụng", bà con lại cùng với lính làm đường bê tông, làm cầu vượt suối.
Khoảng hơn 10 năm về trước, đời sống của đồng bào các dân tộc huyện Sông Mã còn gặp muôn nghìn khó khăn. Anh kể cho bà con nghe mọi lúc, mọi nơi, trên nương, dưới ruộng, hay trong mỗi bữa ăn. Nhưng điều khó khăn nhất trong quá trình làm thuê tác dân vận là nơi ngụ của dân tộc Mông, Khơ Mú, Sinh Mun thường tập trung ở những khu vực hẻo lánh hoặc biệt lập trên các ngọn núi cao, xa quốc lộ.
Công việc của cán bộ, chiến sĩ nơi đây đâu chỉ là những "đôi mắt thần" canh gác cho đất nước, mà họ còn thực thụ trở thành những người con của các gia đình đồng bào Mông, Sinh Mun, Khơ Mú nơi vùng biên cương xa xôi này.
Thành ra, bà con không dễ để từ bỏ thói quen “truyền thống” này. Quân nhân Trạm 2 hướng dẫn bà con cách săn sóc vật nuôi. Bởi, việc trồng cây thuốc phiện và sử dụng các sản phẩm từ nó bấy lâu đã "ăn sâu bám rễ" vào sinh hoạt hằng ngày của không ít người dân nơi đây. Thượng úy QNCN Mùa A Hàng, người dân tộc Mông là một trong bốn viên chức có thâm niên cao nhất đơn vị về những ngày tháng lội suối, luồn rừng đến với đồng bào.
Cuộc sống của bà con các dân tộc huyện Sông Mã đang "thay da đổi thịt" từng ngày. Nói vui như Thượng úy QNCN Trịnh vinh quang: “Để đến được những bản như: Kéo Càn, Pá Ló, Co Đứa của xã Mường Sai hay Non Kham, Huổi Nhương, bản Búa, bản Híp của xã Chiềng Khương vào những ngày mưa, nếu đi xe máy thì chỉ có thể “duy trì” số 1, số 2… hàng chục cây số”.
Và chính từ những câu chuyện ấy từng ngày, từng ngày thuyết phục được bà con nghe theo, làm theo những gì mà bộ đội chỉ dẫn. Vất vả là thế, khó khăn là thế, nhưng vào thời kì đầu, khi lính và cán bộ địa phương có mặt, đa số dân bản, nhất là đàn ông đều chẳng ai "quan hoài" đến những lời máu nóng, thậm chí cứ liên tục sử dụng chiêu bài… “chi pâu” (tiếng Mông tức là “không biết”).
Đặc biệt, một số dân tộc như Mông, Sinh Mun, Khơ Mú, tỷ lệ người mù chữ, tái mù chữ, không nói được tiếng phổ quát khá cao, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tới nhân dân.
Đại úy QNCN Hà Văn Ngoan, tâm tư: “Tất cả chỉ tại cây thuốc phiện đã làm bà con dân bản u mê. Bài và ảnh: NGUYỄN HỒNG SÁNG. Ban đầu là một nhà, hai nhà, chung cục là cả bản cùng cam kết không trồng cây thuốc phiện mà thay vào đó là những khoảnh vườn, vạt nương ngô, sắn hay nhãn.
Trước khi về xuôi, những câu chuyện, những việc làm của cán bộ, chiến sĩ đơn vị thực sự để lại trong tôi nhiều ấn tượng.
Bà con rất sợ quân nhân đến phá cây thuốc phiện thì sẽ không còn biết lấy thứ gì để hút… Từ tâm lý đó, cùng với những luận điệu xuyên tạc, tuyên truyền, kích động, bóp méo sự thật của kẻ xấu về hình ảnh quân nhân Cụ Hồ nên đồng bào càng nhất mực không chịu làm theo những hướng dẫn của bộ đội”.
Anh cũng có thể coi là “nhân chứng sống” của cái thuở quanh năm quần xắn đến gối đi nương, làm rẫy với bà con các dân tộc nơi đây. Vì vậy, các anh phải đi bộ mấy ngày đường mới tới được những bản xa xôi nhất. Đặc biệt với Mùa A Hàng, vừa tuyên truyền vận động, anh vừa chủ động sưu tầm tư liệu cùng những câu chuyện giản dị, dễ hiểu về cuộc đời, tấm gương đạo đức của Bác Hồ dịch sang tiếng Mông rồi kể cho đồng bào nghe.
Trước tình hình đó, quân nhân Trạm 2 diễn tả rõ kiên tâm kiên trì cắm bản, thực hiện "ba cùng" với đồng bào. Những người "lĩnh ấn tiên phong" là Thượng úy QNCN Mùa A Hàng, Đại úy QNCN Hà Văn Ngoan, Đại úy QNCN Vương Đại Phúc, Thượng úy QNCN Trịnh Đức Thủy… Công việc của các anh là cùng với cán bộ thôn gặp từng gia đình đồng bào, nhất là những nhà có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, có người mắc phải nghiện hút để tuyên truyền về tác hại của cây thuốc phiện, lấy những ví dụ cụ thể cho đồng bào dễ hiểu.
Tuy nhiên, bằng quyết tâm, nghĩa vụ, không cam tâm nhìn cảnh đồng bào ăn đói, mặc rét, suy tàn nòi vì thứ ma túy chết người này, cán bộ, đội viên Trạm 2 đã kết hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, đặc biệt là tranh thủ sự ủng hộ của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trên địa bàn, kiên trì lặn lội tới từng thôn, bản xa nhất, heo hút nhất để vận động đồng bào trường đoản cú cây thuốc phiện; song song giúp bà con chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế.
Những câu chuyện về Bác cùng giọng kể trầm ấm của Mùa A Hàng làm cho bà con ai cũng thích, lắng tai; ai cũng hào hứng và hàm ơn Bác Hồ. Trong nhiều ngày, nhiều tuần, họ nhất thiết thực hành 3 không: Không nghe, không nói, không làm theo lính.
Hiện tượng du canh, du cư tự do diễn ra khá phổ thông, những hủ tục lạc hậu có mặt ở hầu hết các thôn, bản.
Đây còn là điểm nóng về trồng cây thuốc phiện. Rồi những nương cỏ được bà con hằng ngày "lắp ghép" hoàn chỉnh phục vụ việc chăn nuôi, phát triển đàn bò sữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét